Phương pháp đào tạo học phần khi học tại Mỹ

Ở trường tôi, chương trình thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội có thời gian hai năm, áp dụng phương thức đào tạo học phần, có nghĩa trong hai năm nếu hoàn thành xong 16 học phần bạn có thể tốt nghiệp, không cần làm luận văn tốt nghiệp hay bảo vệ luận văn. Ban đầu, tôi đã vô cùng hí hửng vì điều này, nhưng sau khi bước vào giai đoạn giữa học kỳ tôi mới ý thức được, việc phải hoàn thành 16 học phần trong hai năm là một việc cực kỳ gian khó.

Sau khi trao đổi với giáo sư hướng dẫn, tôi nhận ra, nếu muốn tốt nghiệp trong vòng hai năm, mỗi năm phải tôi xử lý hết chương trình của ba học kỳ, tức học kỳ mùa xuân, mùa hè và mùa thu, hơn nữa còn phải bắt đầu thực tập càng sớm càng tốt. Tuy đa phần các môn học của năm thứ nhất đều là môn đại cương, chỉ tới năm thứ hai mới sang các môn chuyên ngành, nhưng giáo sư hướng dẫn vẫn đề nghị tôi cố gắng sớm xác định hướng nghiên cứu để hỗ trợ cho việc chọn môn và thực tập trong tương lai. Mặc dù vậy, tôi vẫn quyết định phải hoàn thành mục tiêu thích ứng với cuộc sống và việc học trong học kỳ đầu tiên, tạm thời gác chuyện xác định hướng nghiên cứu sang một bên. Nhưng ai ngờ về sau chính vì không kịp thời xác định phương hướng nghiên cứu, tôi đã lãng phí cơ hội thực tập nền tảng ban đầu, đây cũng là một bài học đối với tôi.Tóm lại, sau khi nói chuyện với giáo sư hướng dẫn tôi bèn dốc sức cho việc học của kỳ đầu tiên. Trước khi đến đây, tôi luôn cho rằng việc học của sinh viên Mỹ cực kỳ thoải mái. Trong khá nhiều bộ phim Mỹ, tôi chẳng hề thấy cảnh họ học tập gian khổ, ngược lại, còn thường xuyên bắt gặp những cuộc party đàn đúm điên cuồng. Sau này tôi mới phát hiện ra cuộc sống học tập nơi đây thật sự quá khốc liệt. Khoảng một tháng sau khi bắt đầu lên lớp, tôi hoàn toàn nhận thức được sự sáng suốt trong lời dặn dò của đàn chị: Sau khi mọi người trở nên bận rộn, sẽ chẳng ai còn thời gian để lo lắng những vấn đề đại loại như “phải thích ứng với cuộc sống như thế nào”, bởi vì tôi hầu như dành hết thời gian và sức lực vào việc học tập nặng nề.

Các bạn có có thể tham khảo dịch vụ chụp ảnh áo dài chuyên nghiệp có 1-0-2 tại Hà nội tại đây

Đọc sách

Về cơ bản, mỗi một giáo viên đều cung cấp cho học sinh một danh sách dài dằng dặc các sách cần đọc, tất cả đều là nội dung mà họ sẽ giảng, vì thế việc đầu tiên sinh viên cần phải làm là mua hoặc mượn số sách đó. Mỗi tuần trước khi lên lớp, giáo viên sẽ đưa những phần bài cần đọc trước, chúng thường có nội dung thuộc chương bốn đến chín, hoặc khoảng từ trang mười mấy đến trăm mấy của một cuốn sách nào đó.

Trong học kỳ đầu tiên, vì chưa có kinh nghiệm nên tôi mất rất nhiều thời gian cho việc này. Mới đầu, tôi cho rằng số sách đó chỉ để sinh viên tham khảo, nên nghĩ bụng dù không mua vẫn có thể theo kịp bài giảng, cùng lắm đến lúc ấy mượn cũng không muộn. Nhưng nào ngờ, khi bắt đầu giờ học ai cũng chất sách đầy bàn, chỉ duy nhất bàn tôi không một quyển sách, đến lúc ra thư viện mượn mới tá hỏa, sách đã bị mượn hết sạch. Khi cuối cùng sách cũng về đến tay, rất nhiều lần tôi bỏ qua không đọc hết các chương quy định. Mỗi khi tôi đọc chưa xong hoặc không hiểu mới đau khổ nhận ra mình hoàn toàn không thể tham gia thảo luận trên lớp. Vì thế mới dần hiểu, ở Mỹ, việc hoàn thành phần đọc một cách có chất lượng là yêu cầu cơ bản để học tốt một môn học.

Tôi đã thử áp dụng rất nhiều cách để hoàn thành mọi phần bài đọc nhằm theo kịp tiến độ trên lớp. Đầu tiên, tôi coi phần bài đọc về nhà của mọi môn học đều như nhau, mải miết đọc, không phân biệt quan trọng hay không, nhưng về sau phát hiện ra để đọc và hiểu hết mọi nội dung trong khoảng thời gian có hạn là điều gần như là không thể. Tôi những tưởng chính khó khăn về ngôn ngữ đã ảnh hưởng đến tốc độ và khả năng đọc hiểu của tôi, nhưng sau khi hỏi han bạn bè xung quanh mới biết, đối với người Mỹ, việc hoàn thành toàn bộ bài đọc về nhà theo đúng chuẩn cũng cực khó khăn. Vì thế, tôi bèn thay đổi chiến lược bằng cách không ngừng thử nghiệm để dần hình thành nên thói quen đọc phù hợp cho bản thân.

Nói đến thói quen đọc, tôi cần phải cảm ơn kỳ thi từng khiến tôi thù ghét năm xưa – GRE. Còn nhớ lúc ôn tập GRE, đọc hiểu chính là phần làm tôi đau đầu nhất, bởi phần đọc của GRE vốn nổi tiếng là khó hiểu. Để chinh phục được nó, lúc ấy tôi đã nghiền ngẫm rất kỹ cuốn “GRE reading 39+3”. Dù thời gian trôi qua đã lâu, nhiều chi tiết chẳng thể nhớ rõ, nhưng tôi luôn nhớ nằm lòng phương pháp đọc mang lại hiệu quả cao được nhắc đến trong sách: Bắt buộc phải đọc hai đoạn đầu và cuối của bài (tức đoạn mở và kết bài), phải đọc câu mở đầu và câu kết thúc của mỗi đoạn, phải đọc bất kỳ câu nào mang nghĩa chuyển ý, đọc hiểu sơ lược nội dung của bất cứ phần ví dụ (tức luận cứ) nào, những phần còn lại có thể đọc lướt qua khi còn thời gian.

Ban đầu khi mới học theo cách này, đơn thuần chỉ để đối phó với bài thi, tự nhủ chỉ cần qua được kỳ thi khủng khiếp đó mình sẽ chẳng bao giờ va phải những bài đọc khó nhằn như thế nữa. Nào ngờ sau khi đến đây tôi nhận ra mọi bài đọc mà giáo viên yêu cầu, đều khó tương đương với phần đọc của GRE, và cũng cho đến tận hôm nay tôi mới ý thức được tính thực dụng của phương pháp đọc được học thời đó.

Viết luận

Ngoại trừ số lượng bài luận nhiều kinh hoàng ra, giáo viên còn rất xem trọng chất lượng từng bài, từ nội dung cho đến hình thức đều yêu cầu cực kỳ nghiêm ngặt. Về mặt nội dung, giáo viên sẽ cung cấp đề cương rõ ràng cho sinh viên khi bố trí viết luận, đồng thời đề ra yêu cầu chi tiết cho mỗi phần của bài luận, có lúc thậm chí còn yêu cầu số lượng sách tham khảo cho mỗi một bài. Chỉ cần nghiêm túc viết theo yêu cầu giáo viên đưa ra, cơ bản đều có thể hoàn thành đạt tiêu chuẩn. Về cách thức, trước đây hồi còn ở trong nước, chỉ khi viết luận văn tốt nghiệp tôi mới phải sử dụng cách thức APA.[4] Nhưng khi làm bài tập ở Mỹ, mỗi một bài đều phải tuân thủ theo mẫu APA, bao gồm những chi tiết nhỏ nhặt như khoảng cách hàng, lề, cỡ chữ, số lượng sách tham khảo, chỉ cần sai sót đôi chút thôi cũng sẽ bị trừ điểm nặng. Cụ thể về cách viết luận văn tiếng Anh, tôi đã chia sẻ rất chi tiết trong cuốn sách Săn học bổng trước đây, nên không bàn đến ở đây nữa.

Hình thức giảng dạy phong phú

Hình thức giảng dạy phong phú của giáo viên nơi đây cũng để lại ấn tượng sâu sắc trong tôi. Ngoại trừ theo phương pháp truyền thống “thầy giảng trò nghe” ra, các vị giáo sư còn thường xuyên yêu cầu mọi người thảo luận nhóm: hai, ba hoặc nhiều người gộp thành một nhóm. Vì trong lớp chỉ có tôi và Tiểu Nghệ là người Trung Quốc, nên ban đầu khi mới chia nhóm hai chúng tôi thường dính chặt lấy nhau. Về sau để khích lệ chúng tôi giao lưu nhiều hơn với những bạn học khác, giáo viên cố ý phân hai đứa vào những nhóm khác nhau. Trao đổi thảo luận với các bạn học Mỹ là một việc khiến tôi vô cùng đau đầu, bởi họ nói còn nhanh hơn và tư duy linh hoạt hơn cả giáo viên, mới đầu tôi gần như không thể bắt kịp họ.