Sợ hãi giao tiếp xã hội và nỗi cô đơn du học

Khi cảm thấy việc học và cuộc sống dần đi vào quỹ đạo, còn một chuyện vẫn quấn lấy tôi không dứt – đó là nỗi sợ giao tiếp xã hội.

Kỳ thực, tôi vẫn luôn là đứa hướng ngoại, hoạt bát, vui vẻ. Tôi thích cười, thích chuyện trò, bất kể người lạ hay bạn cũ tôi đều có thể trò chuyện nhiệt tình. Bình thường, tôi cũng cực thích giao lưu với thế giới bên ngoài thông qua các diễn đàn xã hội như blog hoặc Weibo, và luôn chia sẻ cảm xúc thật với mọi người. Nhưng khi mới đến Mỹ, một người với tính cách nhiệt tình sôi nổi như tôi lại mắc phải chứng sợ giao tiếp xã hội. Trong hai năm học ở Washington University (WUSL), bất luận trên lớp hay ngoài giờ, tôi đều cố ý ngụy trang thành một đứa trầm mặc ít nói. Nếu gặp sinh viên Trung Quốc tôi mới hiện hình là chính mình, còn trước mặt người nước ngoài tôi sẽ biến thành một con bệnh mắc chứng sợ giao tiếp nặng ngay lập tức.

>>> Xem thêm: Viết luận – Phương pháp giảng dạy phong phú

Từng có thời gian, tôi vô cùng sợ những giây phút giải lao giữa giờ. Mỗi khi thấy bạn bè người Mỹ bắt đầu thao thao bất tuyệt, tôi lại muốn tự đào hố chui xuống. Nếu đụng phải một cậu bạn cũng đang ngồi không tôi càng lo lắng, hệt như ngồi trên đống lửa, nhấp nhổm không yên, sợ cậu ta sẽ chủ động bắt chuyện, bởi tôi thật sự chẳng biết nói gì với họ. Vậy nên, mỗi lúc như thế tôi đều vội cúi gằm mặt xuống giả vờ như đang ghi chép hay tập trung chơi game trên điện thoại, hoặc đi quách ra khỏi phòng học. Tóm lại, chỉ cần không giao lưu ngôn ngữ hoặc tiếp xúc ánh mắt với người khác, tôi mới cảm thấy được an toàn. Đôi khi vì duy trì cảm giác an toàn ấy, trong một thời gian dài tôi chỉ chơi cùng với hội sinh viên Trung Quốc, quên mất mình đang du học ở nước ngoài.

>>> Xem thêm: Dịch vụ tổ chức hội thảo hội nghị

Tôi từng nỗ lực hết sức để tìm cách khắc phục tâm lý đó, ví dụ như ép bản thân tham gia một số hoạt động và hội thảo của học viện, nhưng mỗi khi rơi vào tình huống ấy tôi lại như tên lính vừa lâm trận đã muốn đào ngũ, chỉ làm qua loa cho xong chuyện. Lạ ở chỗ, mỗi lần dùng tiếng Anh nói chuyện với các sinh viên quốc tế khác tôi đều thể hiện rất tốt, nhưng một khi phải quay lại môi trường đa phần toàn người Mỹ, cái cảm giác thôi thúc bất an, thiếu tự tin đáng ghét kia lại ập đến.

Nỗi sợ hãi cực độ đó bám theo tôi suốt hai năm trời, ban đầu tôi không hề biết lý do tại sao. Cho đến khi ở lại Mỹ làm việc, vấn đề này mới được giải quyết triệt để (xem chương 5). Giờ nhớ lại, tôi cảm thấy căn bệnh đó có thể do vấn đề trở ngại ngôn ngữ gây ra, nhưng căn nguyên sâu xa vẫn bởi tâm lý của tôi. Về mặt này, đôi khi tôi giả định người khác không hề quan tâm đến mình, bất luận tôi nói gì họ chắc chắn không muốn tiếp tục bắt chuyện. Tôi cũng hay suy diễn có thể họ không hiểu thứ tiếng Anh tôi đang sử dụng, hoặc có thể vì tôi phạm phải lỗi ngớ ngẩn trong giao tiếp mà họ cười nhạo hoặc xem thường tôi. Tôi tự động khắc sâu ý niệm “tôi là một sinh viên Trung Quốc” vào đầu, đồng thời phóng đại sự khác biệt giữa tôi và người Mỹ. Mỗi khi nghĩ đến sự bất đồng ngôn ngữ và khác biệt văn hóa, tôi liền cảm thấy mình không có bất cứ điểm chung nào với họ, về cơ bản không thể cùng nói chuyện được.

Như mối quan hệ giữa ba yếu tố tư duy, tình cảm và hành vi đã nói ở trên, chính bởi tư duy của tôi đã bó buộc bản thân tôi, vì thế mỗi khi ở cùng người Mỹ, tâm trạng tôi tự động trở nên bất an, cuối cùng dẫn đến hành vi câm lặng. Lúc ấy tôi chẳng thể hiểu nổi nguyên nhân tại sao, chỉ luôn cho rằng do bản thân không đủ giỏi, nên mới tự ti mà chẳng thể tiến bộ trong một thời gian dài. Bây giờ ngẫm lại, không dám mở miệng chủ yếu phụ thuộc vào trạng thái tâm lý mỗi người, chứ chẳng liên quan gì đến trình độ ngôn ngữ cả. Bởi những sinh viên Ấn Độ, Hàn Quốc và Nhật Bản mang khẩu âm nặng hơn, phạm nhiều lỗi khẩu ngữ hơn, nhưng họ vẫn tự tin giao tiếp với người Mỹ mà chẳng hề có bất cứ chướng ngại nào. Tóm lại, chính căn bệnh sợ giao tiếp đã trói buộc bản thân tôi trong một thời gian rất dài.

Tuy nhiên, chứng bệnh cô đơn khi du học còn khủng khiếp hơn cả nỗi sợ trong giao tiếp. Nếu sợ, tôi có thể cố gắng trốn tránh những trường hợp phải giao tiếp, nhưng cảm giác cô đơn luôn bám theo như hình với bóng, chốc chốc lại gặm nhấm thế giới nội tâm lo lắng không yên của tôi. Còn nhớ lúc vừa đến Mỹ, vào một buổi sáng cuối tuần, tôi một mình đi mua thức ăn trong siêu thị, đúng lúc đang tập trung chọn đồ, một ông người Mỹ đột nhiên dùng thứ tiếng Trung lơ lớ nói với tôi: “Chúc mừng năm mới”. Lúc ấy, tôi mới nhớ ra hôm đó là ba mươi tết, việc học tập quá ư bận rộn khiến tôi quên cả ngày tết cổ truyền.

Một mình lặng lẽ quay về nhà, ngồi ngẩn ngơ trên giường. Tôi thầm nghĩ, nếu lúc này ở Trung Quốc, có lẽ tôi đã sớm đi mua đồ sắm tết cùng mẹ, tủ lạnh trong nhà nhất định đầy ắp đủ thứ cao lương mỹ vị. Mọi người chắc đang gói bánh sủi cảo cho bữa ăn tất niên. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ, trời rét căm căm, im ắng như tờ, trên đường chẳng thấy chút màu sắc nào của tết.

Đó là cái tết đầu tiên của tôi ở Mỹ, tôi vụng về làm một nồi mì rau nóng hổi để lấp đầy cái dạ dày trống rỗng, sau đó một mình ngồi trước màn hình máy tính xem phim để xua đi nỗi nhớ quê hương. Nhưng dần dà, bạn sẽ nhận ra nỗi nhớ ấy vô cùng dai dẳng. Tuy cuộc sống hàng ngày bận rộn, đôi lúc cũng muốn ngồi thưởng thức âm nhạc, thức ăn và văn hóa mới lạ, ngắm nhìn những nghệ sĩ đường phố kéo violon cũng mang lại cảm giác thích thú, nhưng giữa những giây phút ấy, trong lòng tôi vẫn bất giác trào dâng nỗi cô đơn, hiu quạnh. Một cảm giác chẳng biết chia sẻ cùng ai: tâm sự với người thân thì sợ mọi người lo lắng, chuyện trò cùng bạn bè trong nước, họ lại chẳng thể cảm thông. Vì thế, nhiều khi chỉ biết thẫn thờ nhớ về quê xa.

Để xóa tan cảm giác cô đơn ấy, tôi cố gắng khiến bản thân trở nên bận rộn. Tôi bắt đầu học cách nấu ăn, món nào cũng tìm cách nấu thử. Trước khi xa nhà, tôi chẳng hề biết nấu nướng gì, nhưng lâu dần, tôi đã có thể chiên bánh, ninh xương, làm bánh kem, hầm canh, tuy hình thức không đẹp, nhưng vẫn cảm thấy cực kỳ thỏa mãn khi được thưởng thức những món mình tự nấu. Ngoài ra, tôi còn bắt đầu dành thời gian để đi thăm thú đó đây, tìm kiếm những cảnh đẹp ở các thành phố lân cận, chụp lại rất nhiều ảnh để chia sẻ cùng gia đình. Tuy nhiên, dù bận rộn đến đâu, cảm giác cô đơn ấy vẫn cứ xâm lấn trái tim tôi. Hoàng hôn buông xuống, ánh đèn đường lấp lánh được thắp lên, con đường trước khu ký túc xá bắt đầu huyên náo, nhưng những lúc nhộn nhịp ấy cũng chính là lúc tôi cảm thấy cô đơn nhất. Sự náo nhiệt bên ngoài như đang muốn nhắc nhở tôi, chúng không thuộc về tôi và tôi cũng không thuộc về chúng.

Nhớ lại đêm dạ tiệc của Hội du học sinh Trung Quốc ở trường, có ba anh chị khóa trên đã hát bài do họ tự sáng tác mang tên “Chầm chậm thôi”. Ca khúc này vốn nói về việc người con trai muốn tìm bạn gái phải từ từ, nhưng với tôi lúc ấy dường như bài hát đang nhắn nhủ về một thái độ đối với cuộc sống mới: Hãy sống chậm lại. Có lẽ rất nhiều du học sinh đều từng như tôi, sợ hãi giao tiếp và bị nỗi cô đơn trói buộc, và những ai sắp sửa bước lên con đường này rồi cũng sẽ phải trải qua những vấn đề y hệt. Lúc ấy tôi chẳng hề có chút kinh nghiệm, càng không biết phải làm sao, nên mới bị vấn đề đó trói chân lâu như vậy. Nếu có thể đi ngược lại thời gian, tôi rất muốn nói với bản thân mình thuở ấy rằng: Đừng vội vàng, chầm chậm thôi, hãy bình tĩnh để thời gian giải quyết, bởi thời gian là câu trả lời cho mọi điều thắc mắc, cuối cùng tất cả nghi vấn sẽ dần được hóa giải hết thôi.

>> Xem thêm: Dịch vụ tổ chức sự kiện Marketing

Phương Trinh