Viết luận – Phương pháp giảng dạy phong phú

Ngoài đống bài khóa không bao giờ đọc hết ra, còn một mớ luận văn khiến người ta sợ mất mật. Ở Mỹ, rất nhiều bài tập của môn chuyên ngành đều dưới hình thức luận văn. Đối với họ, luận văn không phải thứ chỉ gặp vào cuối mỗi kỳ, mà nó giống như cơm rau hàng ngày xuất hiện nhan nhản trong mọi chuyên ngành, mọi cấp bậc. Thông thường với mỗi một môn học, gần như chúng tôi đều phải nộp bài luận sau một hoặc hai tuần. Cứ “ba ngày một bài nhỏ, năm ngày một bài lớn”. Tình hình này còn thê thảm hơn đối với các chuyên ngành khoa học xã hội, thậm chí chúng tôi còn thân mật đổi tên Học viện Công tác xã hội thành “Học viện Luận văn”.

Thường những bài luận nhỏ sẽ do mỗi người tự viết (khoảng năm đến mười trang), nói chung tương đối dễ nuốt, viết nhiều rồi sẽ thành quen. Nhưng gặp phải bài luận lớn (trên mười trang) hoặc bài theo nhóm (tức một tổ cùng nhau viết một bài trên hai mươi trang) sẽ là một trải nghiệm cực kỳ đau đớn, nếu không phải vắt kiệt mọi cảm xúc thì cũng phải vật lộn trong sự hợp tác nhóm.

Ngoại trừ số lượng bài luận nhiều kinh hoàng ra, giáo viên còn rất xem trọng chất lượng từng bài, từ nội dung cho đến hình thức đều yêu cầu cực kỳ nghiêm ngặt. Về mặt nội dung, giáo viên sẽ cung cấp đề cương rõ ràng cho sinh viên khi bố trí viết luận, đồng thời đề ra yêu cầu chi tiết cho mỗi phần của bài luận, có lúc thậm chí còn yêu cầu số lượng sách tham khảo cho mỗi một bài. Chỉ cần nghiêm túc viết theo yêu cầu giáo viên đưa ra, cơ bản đều có thể hoàn thành đạt tiêu chuẩn. Về cách thức, trước đây hồi còn ở trong nước, chỉ khi viết luận văn tốt nghiệp tôi mới phải sử dụng cách thức APA.[4] Nhưng khi làm bài tập ở Mỹ, mỗi một bài đều phải tuân thủ theo mẫu APA, bao gồm những chi tiết nhỏ nhặt như khoảng cách hàng, lề, cỡ chữ, số lượng sách tham khảo, chỉ cần sai sót đôi chút thôi cũng sẽ bị trừ điểm nặng. Cụ thể về cách viết luận văn tiếng Anh, tôi đã chia sẻ rất chi tiết trong cuốn sách Săn học bổng trước đây, nên không bàn đến ở đây nữa.

>>> Xem thêm: Cuộc đua cùng thời gian

Hình thức giảng dạy phong phú

Hình thức giảng dạy phong phú của giáo viên nơi đây cũng để lại ấn tượng sâu sắc trong tôi. Ngoại trừ theo phương pháp truyền thống “thầy giảng trò nghe” ra, các vị giáo sư còn thường xuyên yêu cầu mọi người thảo luận nhóm: hai, ba hoặc nhiều người gộp thành một nhóm. Vì trong lớp chỉ có tôi và Tiểu Nghệ là người Trung Quốc, nên ban đầu khi mới chia nhóm hai chúng tôi thường dính chặt lấy nhau. Về sau để khích lệ chúng tôi giao lưu nhiều hơn với những bạn học khác, giáo viên cố ý phân hai đứa vào những nhóm khác nhau. Trao đổi thảo luận với các bạn học Mỹ là một việc khiến tôi vô cùng đau đầu, bởi họ nói còn nhanh hơn và tư duy linh hoạt hơn cả giáo viên, mới đầu tôi gần như không thể bắt kịp họ.

Ngoại trừ việc thảo luận nhóm, sinh viên còn hay bị yêu cầu lên thuyết trình trong giờ học, về cơ bản mỗi môn học chỉ cần hoàn thành một bài luận lớn, sinh viên phải trình bày thành quả của bản thân trước lớp bằng hình thức thuyết trình. Mỗi khi chuẩn bị thuyết trình, tôi đều viết nháp trước và học thuộc rất cẩn thận, sau đó lên bục đọc lại như một cái máy. Trong hai học kỳ đầu tiên, tôi đều căng thẳng đến phát run mỗi khi phải thuyết trình. Cho đến khi chứng kiến một sinh viên Mỹ bên cạnh cũng run cầm cập, tôi mới nhận ra người Mỹ cũng rất sợ phải nói trước đám đông, cho dù được dùng tiếng mẹ đẻ. Phát hiện thú vị này giúp tôi không còn căng thẳng như trước nữa. Và sau này, do trải qua nhiều lần luyện tập, tôi dần khắc phục được nỗi sợ hãi đó. Mặc dù lần nào trước khi bước lên bục tôi cũng căng thẳng, nhưng mỗi khi bắt đầu nói tôi đã cảm thấy nhẹ nhàng hơn nhiều. Tôi vẫn nhớ như in một câu thoại trong bộ phim We Bought a Zoo (tạm dịch: Vườn bách thú): Đôi khi bạn càng trốn tránh, trong lòng lại càng lo lắng, nếu có thể mạnh dạn lấy hết dũng khí để bắt đầu trong 20 giây, bạn sẽ phát hiện nó thật sự không khó như bạn nghĩ. Về sau, “định luật 20 giây” đã cứu vớt tôi trong rất nhiều trường hợp.

>>> Xem thêm: Dịch vụ tổ chức chạy roadshow

Ngoài ra, còn các phương thức giảng dạy khác như: phân vai diễn, khảo sát thực tế, tự làm phim… Ban đầu khi còn chưa quen với các phương thức giảng dạy phong phú như thế, mỗi tiết học với tôi đúng là cực hình, tiết này qua tiết khác hệt như một loạt chướng ngại vật nối tiếp nhau buộc tôi phải vượt qua. Và mỗi khi kết thúc, tôi lại cảm thấy kiệt sức như vừa trải qua một trận cuồng phong vậy. Chính vì môn nào cũng khó nhằn, nên hầu hết thời gian ngoài giờ học tôi đều tập trung chuẩn bị bài mới, viết luận và ôn tập bài cũ, rất ít “thời gian rảnh rỗi”.

Vào tháng Ba, thời hạn cuối cho mọi bài luận sắp đến. Hầu như ngày nào tôi cũng tất tả chạy đi chạy lại giữa phòng học, thư viện và ký túc xá, bận bịu với việc đọc sách, tìm tài liệu, viết luận văn, đến mức chẳng nói chuyện với ai. Do lúc ấy vẫn chưa bắt kịp được nhịp độ của việc học tập, nên mỗi ngày tôi đều hành hạ mình đến mức mệt lử, hệt như con quay xoay mãi không ngừng, còn việc thức trắng đêm viết luận là chuyện xảy ra như cơm bữa.

>>> Xem thêm: Dịch vụ tổ chức gian hàng hội chợ

Một hôm khi lên lớp, tôi bỗng chú ý đến một cuốn sổ ghi chép na ná cuốn lịch của cô bạn người Mỹ ngồi phía trước. Trộm nhìn, liền phát hiện bên trong ghi đầy những dòng chữ xanh đỏ rất bắt mắt. Sau khi hỏi ra mới biết, cuốn sổ đó gọi là sổ kế hoạch hàng ngày (planner), hầu như ở Mỹ ai cũng có một cuốn. Cô ấy nói, cuốn sổ không chỉ được dùng để lên kế hoạch cho việc học tập như: thời gian lên lớp, lúc nào viết luận, lúc nào làm đề mục, hạn nộp bài cho từng luận văn… mà còn dùng để lên lịch hàng ngày, ví dụ: thời gian hẹn hò với bạn bè, ngày nào đi mua sắm, ngày sinh nhật của người thân… Mọi thứ đều được cô ấy ghi chép vào sổ bằng nhiều màu mực khác nhau, như thế bất kể trong tuần dù bận rộn đến đâu, cô ấy vẫn dành thời gian để lên kế hoạch rõ ràng cho từng ngày, từng tuần một.

Được giới thiệu, tôi chạy ù đến siêu thị mua ngay một cuốn sổ kế hoạch hàng ngày, trong lòng vui như bắt được vàng. Tôi dùng bút bốn màu đại diện cho bốn môn khác nhau trong học kỳ này, sau đó đánh dấu hạn nộp lên sổ. Ngoài ra, tôi còn ghi chú một cách cẩn thận khoảng thời gian hoàn thành bài luận, cũng như những việc linh tinh cần làm. Cứ thế, phần lớn các ô thời gian của tháng ba, tháng tư và tháng năm nhanh chóng được điền kín. Khi tôi nhìn lại toàn bộ kế hoạch, mọi việc cần làm trong học kỳ đều trở nên rõ ràng dễ hiểu.

Từ sau khi sử dụng cuốn sổ ấy, cuộc đua với thời gian của tôi cũng bắt đầu. Mỗi tối khi lật sổ ra xem những việc ngày hôm sau phải giải quyết, tôi đều biết được những nhiệm vụ nào cần hoàn thành. Vì thế tôi luôn bắt đầu một ngày mới với mục tiêu rất rõ ràng, chẳng còn xuất hiện thứ cảm giác trống rỗng hay dây dưa nữa.

Trong môn khoa học nhận thức hành vi, có một nguyên lý rất kinh điển về mối quan hệ tác động qua lại giữa tư tưởng, tình cảm và hành vi của một cá nhân. Nói một cách đơn giản, khi trong đầu bạn nảy sinh một thứ tư tưởng tích cực, tâm trạng của bạn cũng sẽ trở nên tích cực, từ đó dẫn đến những hành vi tích cực; ngược lại, nếu tư tưởng của bạn tiêu cực, thì tình cảm và hành vi của bạn cũng trở nên tiêu cực. Vậy nên, nếu muốn thay đổi hành vi một cá nhân, nhất định phải thay đổi từ tư tưởng của anh ta.

Đó là khoảng thời gian tôi trải qua quá trình chuyển biến về tư duy. Mới đầu tôi mang thứ tư tưởng tiêu cực, oán thán hoàn cảnh, phủ định hiện thực… chính một loạt tư tưởng tiêu cực đó dẫn đến tâm trạng chán nản cực độ, từ đó tác động đến hành vi. Tôi tách mình ra khỏi thế giới bên ngoài, trốn biệt trong ký túc xá, tránh tiếp xúc với những điều mới mẻ và cũng lười đối diện với việc học. Cuộc sống trở thành một vòng tuần hoàn ác tính. Nhưng sau khi có sự chuyển biến quan niệm, hiểu ra mình phải đối mặt với vấn đề một cách tích cực thì tâm trạng và hành động cũng theo đó lạc quan và tươi sáng hơn. Cộng thêm sự trợ giúp từ cuốn sổ kế hoạch cá nhân, cuộc sống của tôi dần trở nên quy củ, hành vi tích cực sẽ sinh ra hiệu quả tích cực, thứ hiệu quả này càng củng cố tư duy tích cực trước đó. Vì thế, sản sinh ra một vòng tuần hoàn tích cực trong cuộc sống.

Cứ thế, bắt đầu từ tháng ba, tháng tư, tôi cảm nhận được cuộc sống dần đi vào quỹ đạo. Khi trở nên bận rộn, quả thật con người ta không còn thời gian để sợ bóng sợ gió, dường như tôi cũng nhanh chóng quên đi vấn đề “phải thích ứng với hoàn cảnh như thế nào”. Tuy lúc ấy vẫn còn nhiều điều khiến tôi bán tín bán nghi, vẫn cảm thấy bất an khi đến một nơi xa lạ, vẫn thiếu chút tự tin trước những khuôn mặt ngoại quốc tóc vàng mắt xanh, nhưng với tôi mọi khó khăn trước mắt dường như không còn quá hư ảo như trước kia, chúng dần trở nên có thể lượng hóa. Tôi bỗng cảm thấy chỉ cần bản thân nỗ lực hết sức, rồi mọi thứ sớm muộn cũng sẽ được khắc phục.

Phương Trinh